Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

...



"Có người đã góp nhặt những mảnh vỡ của sự ngã lòng, rồi đem cất vào một xó xỉnh thật sâu. Ngộ nhỡ một ngày kia, người ấy muốn đem những mảnh vỡ ấy ra nặn nắn vá ghép thành “better texture of love”, thì có còn lại được chút tàn dư nào chăng, hay mớ vỡ vụn kia đã phân hủy hết trong môi trường acid rồi?"

NHỮNG MẨU BÁNH MÌ KIẾN HIỆU


(Nguyên tác: Witches' loaves)

O'HENRY
TRẦN THANH PHƯƠNG dịch


Cô Martha Meacham có một cửa hiệu bán bánh mì nhỏ ở góc phố (ấy chính cái cửa hiệu ấy, bạn biết rồi chứ? Nơi có bậc tam cấp đi xuống và khi bạn mở cửa, chiếc chuông kêu leng keng).

Cô Martha đã ngấp nghé tứ tuần, và trong tài khoản của cô ở ngân hàng có hai nghìn đôla. Cô Martha có hai chiếc răng giả và một trái tim rất đa cảm. Nhiều phụ nữ khi đi lấy chồng thật ra còn ít điều kiện hơn cô Martha kia.

Khoảng hai ba lần trong tuần ở cửa hiệu lại xuất hiện một khách hàng mà cô Martha ít nhiều để ý đến. Đó là một người đàn ông trung niên, đeo kính và có bộ râu quai nón rậm được xén tỉa thành hình cái nậm. Ông ta nói tiếng Anh với giọng Đức rất nặng. Bộ comlê ông ta mặc hơi rộng, đã cũ, không được là cẩn thận, nhiều chỗ đã phải vá. Ấy thế nhưng ông vẫn có vẻ chỉnh tề và cái chính là tác phong của ông rất đứng đắn.

Người khách này bao giờ cũng chỉ chọn hai chiếc bánh mì đã cứng. Bánh mì mới ra lò giá năm xu một chiếc, còn bánh mì đã cứng thì năm xu được những hai cái. Không khi nào ông ta hỏi mua một thứ gì khác.

Có một lần cô Martha nhận thấy những vệt bột màu đỏ và nâu ở ngón tay của ông. Khi đó cô khẳng định ông ta là hoạ sĩ và rất nghèo. Có lẽ ông phải sống ở đâu đó trên gác xép, hàng ngày ăn bánh mì khô cứng và mơ ước đến bao nhiêu thứ ngon lành khác có rất nhiều ở cửa hiệu của cô.

Bây giờ, mỗi bận ngồi ăn sáng – một miếng thịt bê, bánh bơ mứt và nước chè – cô Martha thỉnh thỏang lại thở dài và thương xót cho ông hoạ sĩ, một con người tế nhị và có học đến vậy, lẽ ra có thể cùng ngồi ăn uống ngon lành với cô lại phải ngồi nhai những mẩu bánh mì khô cứng trên gác xép lạnh lẽo, bị gió lùa. Trái tim cô Martha, như bạn biết đấy, vốn rất đa cảm.

Sau khi quyết định kiểm tra lại điều phỏng đoán của mình về nghề nghiệp của ông khách, cô Martha đã đem từ phòng trong ra cửa hiệu bức tranh trước kia mua tại nơi bán đấu giá và đặt nó lên giá phía sau quầy hàng. Bức tranh vẽ một cảnh tượng ở Vơnidơ ở chỗ dễ thấy nhất, hay nói đúng hơn là chỗ lắm nước nhất nổi lên một toà cung điện đá trắng nguy nga (nếu như tin vào chú thích phía dưới). Khoảng không gian còn lại đầy kín những chiếc thuyền có mui (một mệnh phụ ngồi trên một chiếc thuyền đang thò ngón tay xuống nước), những đám mây, bầu trời và cơ man những mảng tối. Không một hoạ sĩ nào đi ngang qua một bức tranh như vậy mà lại không chú ý đến nó.

Hai ngày sau người khách ấy lại đến cửa hiệu.
- Sin pà hai chiếc bánh mì khô.

Và khi cô Martha gói bánh mì vào giấy, ông nói:
- Thưa pà, bức tranh của pà mới đẹp làm sao.
- Thế à? – Cô Martha rất hớn hở vì cái mẹo láu cá của mình.
– Tôi yêu nghệ thuật lắm và… (có quá sớm khi nói: … “và cả các hoạ sĩ” không nhỉ?)
– Sau khi tìm được từ thay thế cô nói tiếp:
– … và hội hoạ. Ông cũng thích bức tranh này à?
- Cung tiện này vẽ không đúng, người khách trả lời,
– phối cảnh không chuẩn xác. Thôi, chào pà nhé.

Ông khách cầm gói bánh mì, cúi chào và bước nhanh ra cửa.

Bây giờ thì không còn phải nghi ngờ gì nữa, ông ấy đúng là hoạ sĩ. Cô Martha lại đem bức tranh cất vào phòng trong.

Ánh mắt ông ấy sau cặp kính trông mới dịu dàng nhân hậu làm sao! Vầng trán ông ấy mới cao làm sao! Vừa mới nhìn bức tranh đã nhận xét được ngay về cách phối cảnh – vậy mà phải sống bằng bánh mì khô! Nhưng các thiên tài nhiều khi buộc phải vật lộn để sinh tồn trước khi thế giới công nhận họ đấy chứ.

Nghệ thuật và kỹ thuật phối cảnh sẽ được lợi bao nhiêu nếu như con người tài năng này được sự hỗ trợ của hai nghìn đôla tài khoản ngân hàng, một cửa hiệu bánh mì và một trái tim đa cảm… Nhưng cô Martha ơi, cô lại bắt đầu mơ mộng hão huyền rồi đấy!

Bây giờ mỗi lần đến hiệu bánh mì, người khách hàng thường đứng lại một vài phút ở quầy hàng để nói chuyện với bà chủ. Rõ ràng là sự niềm nở của cô Martha làm ông ưng lòng.

Ông vẫn tiếp tục mua bánh mì khô cứng. Không hề mua gì khác ngoài bánh mì khô, không mua bánh ngọt, không mua bánh rán, cũng chẳng hề mua bánh quy đường ngon tuyệt vời của cô.

Cô Martha có cảm tưởng như gần đây ông gầy đi và trở nên có phần rầu rĩ. Cô rất muốn giúi thêm cái gì đó ngon lành vào cái gói nghèo nàn của ông, nhưng lần nào cô cũng không đủ can đảm làm điều đó. Cô không dám xúc phạm đến ông. Các hoạ sĩ vốn rất kiêu hãnh mà lại.

Cô Martha bắt đầu xuất hiện ở quầy hàng trong chiếc áo lục trắng chấm xanh. Trong phòng phía sau cửa hiệu bánh mì, cô Martha thường điều chế một hợp chất bí ẩn nào đó từ hạt mộc qua và hàn the. Nhiều người hay sử dụng chất này làm cho trắng da.

Vào một ngày đẹp trời, người khách hàng lại ghé vào cửa hiệu bánh mì như thường lệ, đặt đồng năm xu lên quầy hàng và mua hai cái bánh mì khô muôn thuở của mình. Khi cô Martha vừa đưa tay lên giá lấy bánh mì thì ngoài phố vang lên tiếng còi rú, tiếng bánh xe và một chiếc xe cứu hỏa phóng vụt qua cửa hiệu bánh mì.

Ông khách hàng lao vọt ra cửa như bất kỳ một người nào khác ở vào địa vị ông. Trong đầu cô Martha bỗng lóe lên một ý nghĩ tuyệt diệu và cô đã lợi dụng ngay được sự việc này.

Trên giá phía sau quầy hàng có một miếng bơ người bán sữa vừa mang đến cho cô mười phút trước đây. Cô lấy dao cắt đôi những chiếc bánh mì khô và đặt vào trong mỗi cái bánh một lát bơ khá lớn, sau đó kẹp chặt hai nửa lại.

Khi ông khách hàng quay vào thì cô Martha đã kịp gói bánh mì vào giấy.

Sau vài phút nói chuyện ngắn ngủi nhưng đặc biệt thú vị, ông ta rời cửa hiệu, và cô Martha im lặng mỉm cười, mặc dù lúc đó trái tim cô đang đập bồn chồn.

Có lẽ cô đã tự cho phép mình quá liều chăng? Nếu ông ấy tự ái thì sao? Không, chẳng nhẽ lại như vậy! Đồ ăn uống đâu phải những bông hoa – chúng không có ngôn ngữ của mình. Tặng bơ hoàn toàn không có nghĩa là người phụ nữ có ý xấu hổ.

Hôm đó cô Martha suy nghĩ rất nhiều về điều đó. Cô hình dung thấy ông khách phát hiện ra cái mẹo láu lỉnh vô tội của cô như thế nào.

Này nhé, ông ấy xếp bút vẽ và bảng pha màu lại. Trên giá vẽ là một bức tranh được phối cảnh rất hoàn hảo. Ông chuẩn bị bữa sáng bằng bánh mì khô và nước lã. Ông cắt bánh mì ra và… ái chà!

Hai má cô Martha ửng hồng. Ông có nghĩ đến bàn tay người đã cho bơ vào bánh mì không nhỉ. Ông có muốn…

Chuông trên cửa bỗng réo lên giận dữ. Ai đó bước thình thịch vào hiệu bánh mì. Cô Martha vội từ phòng trong chạy ra và nhìn thấy hai người đàn ông đứng ở quầy hàng. Một người trẻ tuổi ngậm chiếc tẩu trên môi – đây là lần đầu tiên cô thấy anh ta, còn người đàn ông thứ hai chính là ông hoạ sĩ của cô.

Mặt ông hoạ sĩ đỏ phừng phừng, chiếc mũ lật ngửa ra phía sau gáy, tóc tai bù xù. Ông ta nắm chặt tay và giận dữ giơ quả đấm trước mặt cô Martha. Giơ ngay trước mặt cô Martha!

- Dummkôp! – ông ta quát lên giận dữ bằng tiếng Đức. Cứ đợi đấy
– Tausendonfer! – hay là tiếng gì đó đại loại vậy.

Chàng thanh niên kéo ông hoạ sĩ ra cửa.
- Không, tôi sẽ không ra khỏi nơi đây trước khi nói hết mọi điều với bà ta. – ông hoạ sĩ gào lên tức tối.

Những quả đấm của ông làm cho quầy hàng của cô Martha biến thành một chiếc trống Thổ Nhĩ Kỳ.
- Bà đã phá hỏng hết của tôi, – ông quát, đôi mắt xanh long lên giận dữ sau cặp kính.
- Tôi, tôi sẽ nói hết tất cả! Bà là đồ mèo già láo lếu!

Cô Martha kiệt sức tựa lưng vào chiếc giá xếp bánh mì, tay nắm chiếc áo lụa trắng chấm xanh của mình. Anh thanh niên túm lấy cổ áo ông hoạ sĩ.

- Đi thôi! Nói hết thế là được rồi.
– Anh kéo ông bạn đang phát khùng ra đường và quay lại nói với cô Martha.
- Dù sao thì cũng chẳng nên giấu gì bà, do đâu mà xảy ra việc ầm ĩ này. Đó là ông Blumberger, ông ta làm nghề can bản vẽ. Chúng tôi cùng làm việc ở một cơ quan xây dựng. Ba tháng nay ông Blumberger gò lưng làm việc không mệt mỏi, thiết kế toà nhà thị chính mới để chuẩn bị mang dự thi. Chiều hôm qua ông đồ lại bản vẽ bằng mực tàu đã xong. Chắc bà biết người ta vẽ bằng bút chì trước tiên, sau đó tẩy những đường chì bằng bánh mì khô, dùng bánh mì khô tốt hơn dùng tẩy. Ông Blumberger vẫn thường mua bánh mì ở chỗ bà. Còn hôm nay… bà biết đấy… chỗ bơ của bà… bà cứ tưởng tượng xem… tóm lại là bản vẽ của ông Blumberger bây giờ chỉ còn cách đem đi gói bánh mà thôi.

Cô Martha đi vào phòng phía trong cởi chiếc áo lụa chấm xanh và mặc chiếc áo cũ bằng vải mộc nâu vào. Sau đó cô với lọ thuốc rửa da làm từ hạt mộc qua và hàn the, và hắt tuột vào thùng rác sau cửa sổ.


Chàng chăn cừu và người ngoài hành tinh


MANUEL R. CUEVILLAS
PHƯƠNG HOÀI dịch


Con tàu vũ trụ xuyên qua lớp mây và bắt đầu vẽ những vòng tròn phía trên các vách đá trần trụi để chuẩn bị hạ cánh. Phi công Ikles có một nhiệm vụ cụ thể: thu thập thông tin về sự phát triển trí tuệ của con người và chuyển cho căn cứ của mình trên hành tinh Uplon. Để làm điều này, theo hướng dẫn, anh ta phải tiếp xúc với hai người ở hai thái cực của xã hội loài người: chàng chăn cừu Martin Romero sống gần thành phố Soria của Tây Ban Nha, trên bình nguyên nơi có con sông Duero chảy, và Germain Ruff, một nhà tài chính lừng danh thế giới, người sở hữu nhiều nhà máy và tập đoàn, chủ tịch một công ty khổng lồ và là cổ đông chính của nhiều ngân hàng. Ikles nhanh chóng xác định được vị trí bãi chăn cừu của Martin. Còn chàng chăn cừu đã theo dõi chuyển động của chiếc đĩa bay được hơn mười phút. Những con cừu hoảng sợ tụm lại xung quanh Martin, chó thì sủa dữ dội. - Im lặng Sultan, đó là chuyện vặt - Martin vỗ về chú chó. Con tàu nhẹ nhàng tiếp đất. Ikles nhìn thấy Martin. Chiếc áo choàng rách vắt vai, chàng chăn cừu ngồi trước căn lều nghèo nàn của mình thổi ngọn lửa đã sắp tàn. Người ngoài hành tinh ngạc nhiên vì sự bình thản của chàng chăn cừu, anh ta chờ đợi sự sợ hãi hay khâm phục, nhưng Martin chỉ bình thản giữ con Sultan đang sủa inh ỏi. - Xin chào buổi chiều - Ikles chào chàng chăn cừu. - Xin chào buổi chiều - Martin đáp lời - Hãy ngồi gần ngọn lửa, không nóng nữa đâu.

Người phi công sững sờ làm theo lời khuyên của anh ta. “Có lẽ anh ta là một thằng ngốc”, Ikles nghĩ thầm và hỏi to:
- Anh có biết tôi từ đâu tới không?
- Tôi nghĩ rằng anh từ xa tới
- chàng chăn cừu đáp.

- Anh có nhìn thấy ngôi sao kia không? Vậy mà tôi đến từ ngôi sao còn xa hơn thế nữa.

Martin xoa chiếc cằm không cạo và trả lời vị khách:
- Tôi vẫn luôn nghĩ rằng trên cao kia có người.
- Do đâu mà anh nghĩ như vậy?
- Dân chăn cừu có nhiều thời gian rỗi, có thể nghĩ bao nhiêu tùy thích.

- Và anh có hay suy nghĩ không?
- Ikles hỏi giọng châm biếm không che đậy.

- Thỉnh thoảng. Thời gian trôi chậm và cần phải dùng nó để làm điều gì đó...
- Anh có thể kể cho tôi nghe anh nghĩ về điều gì?

- Tại sao lại không? Tôi nghĩ ra các trò chơi khác nhau. Và anh ta xếp những viên đá thành hình vuông trên mặt đất, sau đó chia thành hai hình tam giác vuông bằng nhau. Ikles tò mò theo dõi động tác của anh ta. Khi nhìn thấy Martin chia những góc vuông bằng đường chéo, anh phi công nhướn mày vì ngạc nhiên: chàng chăn cừu đã chứng minh định lý mà người Trái đất gọi là định lý Pythagore!
Cuối cùng Martin cũng ngẩng lên nhìn Ikles, mỉm cười và nói:

- Thật thú vị phải không, chập hai hình vuông và được một hình vuông to hơn.
Và anh ta chỉ vào hình vuông được tạo nên bởi cạnh huyền của tam giác. - Anh đã học hình học chưa? - Ikles hỏi. Martin lại xoa cằm.
- Hình học ư? Đó là gì vậy? Tôi chưa nghe đến nó bao giờ. Tôi đã từng được đi học lúc còn bé tí, tôi biết đọc, biết viết và biết làm tính đôi chút.
Ikles không tin ở mắt mình: kẻ thất học thông thái này đã tự mình, không cần ai giúp đỡ, chứng minh được định lý đã làm lưu danh tên tuổi nhà bác học chứng minh được nó! Người chăn cừu đưa cho anh phi công một mẩu bánh mì và phômai. Ikles nhận lấy và hỏi:
- Anh còn có những trò chơi giải trí nào nữa trong lúc cô đơn?


Martin lại xếp những viên đá, nhưng bây giờ cách rất xa nhau. Anh ta, theo cách của mình, đã diễn giải rất thông minh bản chất của thuyết tương đối và kết luận:
- Chiều dài, chiều rộng và chiều cao, đó chưa phải là tất cả. Vẫn còn có một chiều nữa, mà có thể là còn nhiều chiều khác nữa... Ikles sửng sốt.
- Anh đã khi nào nghe nói tới Einstein chưa? - Chưa nghe tới, thưa ngài. Mà ông ta là ai? Người phi công không còn mảy may nghi ngờ: con người Trái đất này với những hiểu biết bản năng về toán học cao cấp đúng là một thiên tài. Giọng nói của người chăn cừu lôi anh ra khỏi trạng thái trầm ngâm:
- Ngài lần đầu tiên xuống đây?

- Với tôi là lần đầu tiên nhưng những người khác đã xuống đây từ trước.
- Vậy tại sao chúng tôi không nhìn thấy họ?

- Họ đến Trái đất từ hơn 30 triệu năm trước, và dấu vết họ để lại vẫn còn cho đến ngày nay. Trên núi trọc ở Andes, ở biên giới giữa Peru và Bolivia, họ đã xây dựng những công trình vĩ đại. Ở châu thổ sông Nazca vẫn còn một sân bay vũ trụ khổng lồ, nơi những con tàu của họ cất cánh và hạ cánh. Những sinh vật đó, tổ tiên của tôi, đã xây dựng một thành phố chỉ có thể đến được đó bằng cây cầu làm từ ánh sáng bắc qua một khe núi sâu, chính xác hơn là bằng thứ vật chất đã bị ion hóa, xuất hiện theo mong muốn của họ.


Cuối cùng bọn họ đã quay trở về hành tinh Uplon của chúng tôi sau khi đã để lại trên Trái đất vô số những dấu vết về sự có mặt của mình. Cát bị nung chảy có thể thấy ở một số nơi trên sa mạc Gobi của các bạn, là bằng chứng về những vụ nổ hạt nhân của họ. Đến ngày nay vẫn còn các dấu vết của lịch, bản đồ địa lý, dụng cụ đo đạc mà họ đã sử dụng, và các bạn vẫn chưa đoán được chúng có nguồn gốc từ đâu. - Vậy các ngài đến chỗ chúng tôi để làm gì?
- Martin hỏi.

- Làm quen, tìm hiểu về các bạn. Tôi còn cần phải đến gặp một người Trái đất nữa, Germain Ruff. Germain Ruff, Germain Ruff - Người chăn cừu nhăn trán. Anh ta thấy cái tên quen quen... và chợt nhớ ra:
- Tôi biết. Tôi đã đọc về ông ta trong báo. Một con người quan trọng.
- Thông minh chứ?
- Còn phải nói!
- Thông minh hơn anh không?
- Rõ khéo so sánh! Tôi là người chăn cừu nghèo khổ, thất học... Ikles không nói gì. Anh đã quyết định lập tức quay trở về. Nếu như người Trái đất này, kẻ sống lay lắt trong vô danh và nghèo khổ này, mà cũng có một trí tuệ vĩ đại như vậy thì khả năng của Germain Ruff phải đến thế nào!

Chia tay người chăn cừu, anh quay về tàu và hai phút sau con tàu đã bị bầu trời đêm nuốt chửng.

Trong lúc đó, Germain Ruff tiếng tăm đang uống whisky tại câu lạc bộ sang trọng của mình. Suốt cả ngày hôm đó đầu óc anh ta không hề đẻ ra được một ý tưởng nào vì một lý do đơn giản là anh ta hoàn toàn không có khả năng đó. Một ngày của anh ta bắt đầu từ nhà tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ và hiệu làm tóc. Ăn sáng, sau đó ngồi vào ôtô, tiếp sau đó là tráng miệng và bữa sáng thứ hai tại một nhà hàng danh tiếng. Nửa ngày còn lại cưỡi ngựa, rồi xem kịch, một vở kịch chán ngấy đối với anh ta, và cuối cùng là cuộc gặp mặt vui vẻ, nơi anh ta đưa đẩy những câu chuyện tầm phào cộng với một vài thông tin về tình hình quốc tế mà anh ta đọc được trong một tờ tạp chí nào đó. Germain Ruff dốt đặc như một cái nút chai. Các kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau làm việc thay anh ta và điều hành các nhà máy, bảo đảm để chúng vận hành trôi chảy. Uy tín, tên tuổi, sự nổi tiếng mà anh ta có được hoàn toàn là nhờ vào tiền do ông của anh ta kiếm được bằng những cách không lấy gì làm sạch sẽ cho lắm.

Như vậy, người ngoài hành tinh đã có một hình dung hoàn toàn sai lầm về người Trái đất. Anh ta không biết một chân lý giản đơn: “Tôi là bản thân tôi cộng với hoàn cảnh của tôi”.
Martin Romero là một thiên tài mà những hoàn cảnh ngặt nghèo, tiền định và tàn nhẫn (xuất thân của anh ta) đã biến anh ta thành người chăn cừu và phải sống một cuộc sống giữa bầy cừu. Còn đối với Germain Ruff, cuộc đời của anh ta được định đoạt bởi những hoàn cảnh khác, nhờ đó và chỉ nhờ đó mà anh ta có được danh tiếng và một tài sản khổng lồ.


Trở về căn cứ, Ikles báo cáo: “Trái đất toàn là các sinh vật có khả năng to lớn, vĩ đại đến mức những người chỉ ở mức thiên tài phải đi chăn cừu”.